• Tue. May 17th, 2022

    Tin Giải Trí

    Trang thông tin mới nhất 24/24

    Top Tags

    Cẩn trọng với viêm gan siêu vi trong thai kỳ

    Byadmin

    Mar 8, 2022
    can trong voi viem gan sieu vi trong thai ky

    Viêm gan siêu vi A, B, C… gây tổn thương gan của thai phụ, có thể dẫn đến biến chứng sinh non, sẩy thai, tăng nguy cơ tử vong cho mẹ và con.

    Phụ nữ mang thai thường bị suy giảm miễn dịch. Nếu trong giai đoạn này, người mẹ bị nhiễm virus (siêu vi) viêm gan sẽ gây ra những tác động cho cả bản thân và thai nhi.

    BS.CKI Huỳnh Văn Trung, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết, những ảnh hưởng do mỗi loại virus viêm gan gây ra trên người mẹ và thai nhi khác nhau. Hiện tại, mới chỉ có vaccine chích ngừa dành cho viêm gan siêu vi A và B. Do đó, chủ động phòng ngừa và tầm soát các loại bệnh viêm gan siêu vi trong thai kỳ có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ phụ nữ mang thai và thai nhi trước các loại virus viêm gan nguy hiểm.

    Các dạng viêm gan siêu vi trong thai kỳ

    Bệnh viêm gan A (HAV)

    Virus viêm gan A là một loại virus thuộc họ Picornaviridae. Thời gian ủ bệnh trung bình của bệnh viêm gan A là 30 ngày. Virus viêm gan A có nồng độ cao trong phân, nước bọt.

    Virus viêm gan A chủ yếu lây truyền qua đường phân – miệng và rất phổ biến ở các nước đang phát triển, nơi có điều kiện vệ sinh kém, ô nhiễm thực phẩm và nước. Virus viêm gan A có thể lây truyền qua đường tình dục nhưng hiếm khi lây qua đường máu.

    Phụ nữ mang thai bị nhiễm viêm gan A hiếm khi lây truyền cho thai nhi. Tuy nhiên, người mẹ có thể gặp các biến chứng trong thai kỳ như ối vỡ non, nhau bong non, hoặc sinh non trong tam cá nguyệt thứ hai.

    Bệnh viêm gan B (HBV)

    Virus viêm gan B (HBV) là một loại virus thuộc họ Hepadnavirus. Bác sĩ Trung cho biết, nhiễm virus viêm gan B cấp hoặc mạn tính không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Phụ nữ mang thai bị viêm gan B không được điều trị, khả năng lây truyền từ mẹ sang con trên 90%. Nếu mẹ dương tính với kháng nguyên HbeAg và định lượng virus viêm gan B (HBV DNA) ở mức cao thì nguy cơ lây truyền sang con sẽ cao hơn. HBV DNA cao cũng là nguyên nhân chính khiến cho việc phòng ngừa chủ động ở trẻ sơ sinh thất bại. Người mẹ có định lượng virus viêm gan B cao được khuyến cáo sử dụng thuốc kháng virus trong giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ.

    “Có khoảng 90% trẻ bị nhiễm virus viêm gan B từ mẹ trong giai đoạn chu sinh (giai đoạn từ tuần thai thứ 28 đến hết tuần đầu sau sinh) sẽ tiến triển thành viêm gan mạn tính. Tất cả phụ nữ mang thai đều được khuyến cáo nên tầm soát viêm gan B”, bác sĩ Trung nói thêm.

    Bệnh viêm gan C (HCV)

    Virus viêm gan C (HCV) là một loại virus RNA. Quá trình nhiễm viêm gan C cấp tính xảy ra trong 6 tháng đầu tiên sau khi thai phụ tiếp xúc với nguồn bệnh. Nếu thai phụ không được loại bỏ virus viêm gan C thì sau 6 tháng virus sẽ tiến triển thành bệnh viêm gan C mạn tính.

    Viêm gan C mạn tính là nguyên nhân chính gây ra xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan trên thế giới. Một trong các phương thức lây truyền của virus viêm gan C là qua đường từ mẹ sang con. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm HCV ở trẻ em.

    Phụ nữ mang thai trong tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3 có thể bị ảnh hưởng khi có dịch viêm gan E. Ảnh: Shutterstock.

    Phụ nữ mang thai trong tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3 có thể bị ảnh hưởng khi nhiễm viêm gan E. Ảnh: Shutterstock

    Bác sĩ Trung chia sẻ, người mẹ mang thai dương tính với HCV thì khả năng lây truyền cho con trong giai đoạn chu sinh là 5%. Tỷ lệ này có thể cao hơn nếu người mẹ đồng thời nhiễm HIV hoặc có định lượng virus viêm gan C ở mức cao. Khoảng 60-80% số trẻ bị nhiễm viêm gan C lây truyền từ mẹ sẽ phát triển thành mạn tính khi trưởng thành. Phụ nữ được khuyến cáo nên tầm soát viêm gan C nếu có kế hoạch mang thai.

    Bệnh viêm gan E (HEV)

    Virus viêm gan E (HEV) là một loại virus họ Hepeviridae và chi Orthohepeviurs. Có khoảng 7 kiểu gen của virus viêm gan E và kiểu gen 1-4 có ảnh hưởng đến con người.

    Đường lây truyền chính của virus viêm gan E là đường phân – miệng, rất hiếm khi lây qua đường quan hệ tình dục. Bệnh này khá phổ biến ở các nước đang phát triển với điều kiện vệ sinh kém. Mặc dù viêm gan E là một bệnh lý lành tính và thường có khả năng tự khỏi nhưng khi xảy ra ở phụ nữ mang thai lại gây những biến chứng nguy hiểm. Trong giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ, thai phụ nếu bị nhiễm virus viêm gan E có thể chịu tổn thương gan nghiêm trọng hoặc suy gan cấp đặc biệt, thậm chí là tiền sản giật, xuất huyết và tử vong (khoảng 16-20%).

    Viêm gan do virus Herpes simplex (HSV)

    Viêm gan do virus Herpes simplex (HSV) hiếm gặp ở phụ nữ mang thai. HSV lây truyền thông qua tiếp xúc với các vết loét của người bị nhiễm HSV hoặc qua đường tình dục. Phụ nữ mang thai bị nhiễm HSV có nguy cơ cao lây truyền cho thai nhi. Hầu hết các trường hợp viêm gan do HSV nhanh chóng tiến triển thành suy gan tối cấp.

    Nhận biết và phòng ngừa viêm gan siêu vi trong thai kỳ

    Viêm gan siêu vi cấp tính trong thai kỳ có thể không có triệu chứng hoặc dấu hiệu lâm sàng nhẹ như vàng da, buồn nôn, chán ăn, đau bụng hoặc khó chịu, mệt mỏi, khó chịu, đau cơ và nước tiểu sẫm màu. Các triệu chứng lâm sàng này không thể chỉ rõ được là do loại virus viêm gan nào gây ra.

    Bác sĩ Trung cho biết, các biến chứng viêm gan virus thai kỳ có thể gặp phải ở từng loại virus gây viêm gan như sau:

    Viêm gan A: có liên quan đến các biến chứng thai kỳ, bao gồm các cơn co thắt sớm, tách nhau thai, vỡ ối sớm và chảy máu âm đạo. Biến chứng cổ trướng thai nhi và viêm phúc mạc phân su hiếm khi xảy ra.

    Bệnh viêm gan B: nhiễm HBV mạn tính trong thai kỳ có thể dẫn đến biến chứng nhau bong non, sinh non, tăng huyết áp thai kỳ và hạn chế sự phát triển của thai nhi. HBV mạn tính trong thai kỳ cũng có thể làm tăng nguy cơ tiến triển thành xơ gan, gây nguy cơ tử vong cho thai phụ.

    Viêm gan C: hạn chế sự phát triển của thai nhi, tổn thương đám rối thần kinh cánh tay, suy thai, u cephalohematoma, co giật ở trẻ sơ sinh và xuất huyết não thất là những biến chứng thai kỳ có thể xảy ra ở phụ nữ mang thai nhiễm HCV.

    Viêm gan E: các biến chứng sản khoa có thể bao gồm vỡ ối sớm, xuất huyết trước và sau sinh, đông máu nội mạch lan tỏa (DIC), thai chết lưu trong tử cung, sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu và các biến chứng của viêm gan tối cấp. Ngoài ra, trẻ được sinh ra từ mẹ nhiễm HEV còn dễ bị sinh non và nhẹ cân.

    Viêm gan do virus herpes simplex HSV: loại viêm gan này có thể gây nguy cơ tử vong ở thai phụ là 43%.

    Theo bác sĩ Trung, các xét nghiệm đánh giá chức năng gan là một trong những xét nghiệm đầu tiên được đề nghị để kiểm tra chức năng của gan. Ngoài ra, để xác định chính xác loại virus viêm gan cũng như nồng độ của virus, các bác sĩ nội tiêu hóa – gan mật sẽ đề nghị thêm một số xét nghiệm chuyên sâu như xét nghiệm máu tìm kháng thể immunoglobulin M, xét nghiệm huyết thanh tìm kháng nguyên bề mặt viêm gan B, xét nghiệm kháng thể kháng virus C, xét nghiệm Anti-HEV IgM… Viêm gan virus trong thai kỳ có thể được điều trị bằng các phương pháp như sử dụng globulin miễn dịch viêm gan A, thuốc kháng virus…

    Phụ nữ nên tiêm vaccine để phòng một số loại virus viêm gan A, B, D. Ảnh: Shutterstock.

    Phụ nữ nên tiêm vaccine để phòng một số loại virus viêm gan A, B, D. Ảnh: Shutterstock

    Bác sĩ khuyến cáo phụ nữ nên tiêm các vaccine để phòng ngừa viêm gan siêu vi trong thai kỳ như: vaccine viêm gan A, vaccine viêm gan B (để phòng virus viêm gan B và D).

    Đối với virus viêm gan C và E không có vaccine, phụ nữ mang thai nên tránh đi du lịch đến các vùng lưu hành virus viêm gan E. Tầm soát sức khỏe định kỳ giúp phát hiện các dấu hiệu phát triển bệnh để có phương pháp điều chỉnh sớm.

    Ngoài ra, cần ăn uống vệ sinh, quan hệ tình dục lành mạnh, tránh tiếp xúc với máu, vết thương của người khác hoặc các yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm virus.

    “Viêm gan virus trong thai kỳ có liên quan đến các biến chứng thai kỳ và thai nhi. Do đó, tuân thủ các hướng dẫn sàng lọc là chìa khóa để giảm lây truyền viêm gan virus từ mẹ sang con”, bác sĩ Trung nhấn mạnh.

    Ngọc An